Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Công nghệ NFC là gì?

NFC là chất xúc tác quan trọng – là công nghệ kết nối không dây có tính ổn định, trực quan khi tương tác 2 chiều giữa 2 thiết bị điện tử.

Điện thoại di động (ĐTDĐ) giúp mọi người có thể liên lạc với bạn bè, gia đình, đồng nghiệp… một cách dễ dàng. Nhưng với ứng dụng NFC (Near-Field Communications), ĐTDĐ sẽ trở nên gần gũi hơn với cuộc sống hằng ngày, chẳng hạn chỉ cần cú chạm đến một ĐTDĐ khác là bạn có thể trao đổi thông tin, mua vé xem hát, trả tiền mua hàng…

Công nghệ NFC là gì?

NFC (Near-Field Communications) là công nghệ kết nối không dây phạm vi tầm ngắn trong khoảng cách 4cm, sử dụng cảm ứng từ trường để thực hiện kết nối giữa các thiết bị khi có sự tiếp xúc trực tiếp hay để gần nhau. NFC hoạt động ở dải băng tần 13,56MHz và tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa 424Kbps. Do khoảng cách truyền dữ liệu khá ngắn nên giao dịch qua công nghệ NFC được xem là an toàn.


NFC đã được phê chuẩn ISO/IEC vào cuối năm 2003. Tháng 3/2004, Nokia, Sony và NXP đã thành lập diễn đàn NFC để phát triển công nghệ này.
Công nghệ NFC ra đời từ sự kết hợp công nghệ nhận dạng không tiếp xúc và những công nghệ kết nối truy cập mới. NFC có 4 định dạng thẻ dựa trên các chuẩn ISO 14443 Type A, 14443 Type B và ISO 18092.
Công nghệ NFC có 2 chế độ truyền dữ liệu: chủ động (active) và thụ động (passive). Trong chế độ thụ động: thiết bị nguồn phát sẽ phát ra từ trường đến nguồn đích. Trong chế độ này, nguồn đích ở trạng thái bị động và chỉ trả lời khi nhận tín hiệu từ nguồn phát. Trong chế độ chủ động: cả thiết bị nguồn phát và thiết bị đích truyền dữ liệu bằng cách tạo ra từ trường riêng.
Hầu hết các ứng dụng hiện nay đều kết hợp cả 2 chế độ chủ động và thụ động, vì sẽ hữu ích cho các thiết bị trong việc truyền dữ liệu giữa các thiết bị không có nguồn điện, ví dụ các thẻ không tiếp xúc.
Một giao dịch diễn ra trên NFC tuần tự theo các bước: phát hiện (Discovery), xác thực (Authentication), trao đổi (Negotiation), truyền dữ liệu (Transfer) và xác nhận từ phía nhận dữ liệu (Acknowledgment).
Đối với các ứng dụng mang tính nhạy cảm cao, chẳng hạn trong trường hợp muốn tăng cường tính bảo mật trong lúc giao dịch, công nghệ NFC có thêm 2 chuẩn mã hóa: chuẩn mã hóa tiên tiến (Advanced Encryption Standard – AES) là thuật toán mã hóa khối được Mỹ áp dụng làm tiêu chuẩn mã hóa; và chuẩn mã hóa dữ liệu Triple DES (Data Encryption Standard) nghĩa là một thông tin được mã hóa DES 3 lần với 3 khóa khác nhau, do đó chiều dài mã hóa sẽ lớn hơn và an toàn hơn.
NFC-Cong-nghe-ket-noi-thong-minh

Nguyên lý hoạt động của NFC

Khi chip xử lý NFC và ăng-ten của nó đi vào vùng từ trường của thiết bị đầu cuối sẽ xuất hiện dòng điện. Quá trình này được các nhà vật lý gọi là hiện tượng cảm ứng từ. Dòng điện này sẽ di chuyển giữa ăng-ten của điện thoại và thiết bị đầu cuối, tạo ra liên kết bảo mật, cho phép hai thiết bị giao tiếp bằng sóng radio tầm ngắn.

Bảo mật  của NFC

Để bảo mật dữ liệu, NFC cần có sự kết hợp từ nhiều phía gồm nhà cung cấp dịch vụ bằng các giao thức mã hóa và xác thực người dùng. Ngoài ra, khách hàng cũng cần bảo vệ thiết bị và dữ liệu cá nhân với mật khẩu hay chương trình chống vi-rus. NFC có nguy cơ bị đánh cắp thông tin do tín hiệu RF dành cho quy trình truyền tải dữ liệu không dây có thể bắt được bằng ăng-ten. NFC hỗ trợ hai chế độ hoạt động là chủ động (active) và bị động (passive). Vì vậy, khả năng hacker có thể "nghe lén" tín hiệu RF bị tác động rất lớn bởi hai chế độ này. Nếu một thiết bị bị động không tạo ra trường RF riêng, thì sẽ khó có cơ hội cho hacker bắt được tín hiệu RF hơn là thiết bị chủ động. Ngoài ra, NFC cũng có thể bị đánh cắp thông tin cũng như có nguy cơ bị chỉnh sửa dữ liệu. Tuy nhiên, điều đó không quá lo ngại. Bởi nếu muốn thay đổi dữ liệu của NFC, hacker phải xử lý từng bit đơn (đơn vị đo lường thông tin) của tín hiệu RF.
Sự tiện lợi của NFC có thể gây ra nguy cơ rò rỉ dữ liệu hay truy cập trái phép do người dùng bất cẩn. Nếu làm mất thẻ NFC hoặc điện thoại hỗ trợ NFC, thì họ đã "mở đường" cho người nhặt được khai thác chức năng của nó. Khi đó, người nhặt được có thể dùng điện thoại để mua mọi thứ họ muốn. Nếu thiết bị được bảo vệ bằng mã PIN cùng những tính năng bảo mật nâng cao thì sẽ hạn chế được phần nào rủi ro như vậy.

Mục đích chính dùng NFC

- Kết nối với các thiết bị điện tử.
- Truy cập nội dung số, người dùng chỉ cần áp ĐTDĐ lên áp phích quảng cáo (có gắn thẻ từ tính – RF tag), lập tức người dùng sẽ nhận được các thông tin liên quan.
- Giao dịch không tiếp xúc, ví dụ thanh toán, mua vé.
Công nghệ NFC sẽ làm thay đổi thói quen sử dụng thiết bị của mọi người. Theo lý thuyết, có khá nhiều ứng dụng dành cho NFC, chẳng hạn như NFC được sử dụng trong điện thoại di động, camera số, TV, hay hệ thống định vị lái xe để thanh toán hóa đơn những món hàng muốn mua. Khi muốn mua sắm, người dùng có thể thanh toán bằng cách để “sát” thẻ tín dụng vào màn hình máy tính có gắn NFC. Khi chip NFC chứa thông tin thẻ tín dụng (credit card) trong điện thoại di động, ĐTDĐ của bạn sẽ "biến" thành chìa khóa, vé xem ca nhạc, thẻ lưu thông tin cá nhân... Ngoài ra, người dùng có thể biết thông tin của các chương trình giảm giá, khuyến mãi khi dùng ĐTDĐ có NFC chạm gần các áp phích quảng cáo thông minh hay chụp hình và gửi ảnh đến màn hình, máy tính hay trao đổi danh thiếp qua ĐTDĐ có hỗ trợ NFC. Với ĐTDĐ có tích hợp NFC, bạn có thể mua vé và nhận vé và quét thẻ. Sau đó, bạn có thể kiểm tra số tài khoản của mình ngay trên ĐTDĐ.
NFC mở ra một xu hướng trao đổi dữ liệu theo dạng mạng ngang hàng (P2P). Do NFC hoạt động trên tần số 13,56MHz nên không ảnh hưởng đến các công nghệ kết nối không dây khác. Khi mạng NFC được kích hoạt, người dùng vẫn có thể sử dụng các công nghệ kết nối khác như Bluetooth, Wi-Fi nếu muốn kết nối tầm xa hơn hay khi cần truyền lượng dữ liệu lớn hơn.
Công nghệ NFC hứa hẹn sẽ tiến xa và có nhiều tiềm năng hơn thẻ tần số vô tuyến (RFID tag), là nhân tố quan trọng trong việc khai thác các dịch vụ tài chính trên thiết bị di động của các nhà khai thác mạng di động (MNOs-Mobile Network Operators), các nhà thiết kế ĐTDĐ.
Mặc dù các giao thức của NFC khác nhau, nhưng vẫn được xem là linh động hơn, bảo mật hơn so với RFID hay thẻ thông minh. Sự khác biệt chủ yếu là NFC được tích hợp trong các thiết bị di động để liên kết đến các dịch vụ bán lẻ hay các giao dịch tài chính…
Thêm vào đó, tính năng bảo mật khi truyền dữ liệu là vô cùng quan trọng, do đó NFC trên các thiết bị di động không chỉ đơn giản là một công nghệ hay ứng dụng mà là một “hệ sinh thái”. NFC trên thiết bị di động được xác định là nhân tố quan trọng cho các giải pháp thanh toán của Amex, Mastercard và VISA. Việc triển khai NFC đang thực hiện ở châu Âu, tương tự công nghệ không tiếp xúc đang được triển khai rộng rãi trong hệ thống phương tiện di chuyển công cộng trên khắp thế giới. Một ĐTDĐ tích hợp một thiết bị bảo mật điện tử tạo mật khẩu ngẫu nhiên dựa trên phần cứng, đó có thể là thẻ mạch tích hợp toàn cầu (Universal Integrated Circuit Card-UICC) – là nền tảng lý tưởng cho các ứng dụng NFC. UICC chạy ứng dụng SIM trong mạng GSM và ứng dụng USIM trong mạng 3G/UMTS. Mỗi UICC có thể bao gồm nhiều ứng dụng, cho phép truy cập cả 2 mạng 2G và 3G, lưu danh bạ và chạy những ứng dụng khác.

thanh toán trực tuyến | cổng thanh toán | thanh toán điện tử | tích hợp thanh toán
Mọi thắc mắc xin liên hệ theo thông tin sau để được hỗ trợ:
Hỗ trợ khách hàng 24/7
Facebook: https://www.facebook.com/vtcpay
Hotline: 19001530
Website: pay.vtc.vnhotro.vtc.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét